CanGio.orgCần Giờ
Lịch sử và tên gọi

Lịch sử Cần Giờ qua các mốc chính: dòng thời gian từ giồng cát cổ đến bốn xã mới

Dòng thời gian lịch sử Cần Giờ: cư dân cổ trên giồng cát, cửa biển thời Nguyễn, Rừng Sác thời chiến, huyện Duyên Hải, rừng hồi sinh và bốn xã mới từ 7/2025.

Elderly fisherman seen from behind sitting on a wooden jetty at dusk, looking across a wide estuary toward a distant line of mangroves and a passing cargo ship silhouette

Lịch sử Cần Giờ có thể tóm trong sáu chặng: cư dân cổ sống trên các giồng cát từ hơn hai nghìn năm trước; cửa biển của Gia Định từ thời chúa Nguyễn; con đường thuỷ mà liên quân Pháp – Tây Ban Nha đi vào năm 1859; vùng Rừng Sác thời kháng chiến; huyện Duyên Hải với cuộc trồng lại rừng sau 1975; và huyện Cần Giờ từ 1991 cho tới khi thành bốn xã Cần Giờ, Bình Khánh, An Thới Đông, Thạnh An ngày 1/7/2025.

Bài này là bản đồ tổng quát, nối các chặng thành một mạch để người đọc thấy vùng đất đã đi qua những gì, kèm mức độ chắc chắn của từng mốc. Mỗi chặng lớn có bài riêng trong danh mục Lịch sử và tên gọi để đọc sâu hơn.

Bảng mốc thời gian

Bảng dưới đây ghi các mốc theo thứ tự, cột cuối cho biết mốc ấy chắc tới đâu. "Khoảng" nghĩa là các nguồn chỉ đưa ra khoảng thời gian hoặc chưa thống nhất.

Thời gianSự kiệnMức chắc chắn
Khoảng thiên niên kỷ I trước Công nguyênCư dân cổ ở và chôn cất trên các giồng cát vùng Long Hòa (Giồng Cá Vồ, Giồng Am)Có khai quật khảo cổ; niên đại là khoảng
Cuối thế kỷ XVIIPhủ Gia Định được lập (1698); cửa biển Cần Giờ thành lối vào chính của thuyền tới Bến NghéMốc 1698 chắc chắn; vai trò cửa biển có trong địa chí
Đầu thế kỷ XIXGia Định thành thông chí chép về cửa biển Cần Giờ và việc canh giữ cửa biểnCó văn bản
Tháng 2/1859Liên quân Pháp – Tây Ban Nha vào cửa Cần Giờ, ngược sông đánh chiếm thành Gia ĐịnhChắc chắn
Thời Pháp thuộcLuồng Lòng Tàu thành luồng tàu biển chính vào cảng Sài Gòn; rừng bị khai thác củi, thanChắc về nét chung; mốc hành chính cần tra
Khoảng 1966 – 1975Đặc khu Rừng Sác, Đoàn 10 đặc công hoạt động; rừng bị rải chất làm rụng lá, bom đạnChắc về nét chung; năm lập đặc khu thường ghi 1966
1978Vùng đất về TP Hồ Chí Minh dưới tên huyện Duyên Hải; bắt đầu trồng lại rừng đước quy mô lớnTheo tài liệu địa phương
1991Huyện Duyên Hải đổi lại tên Cần GiờTheo tài liệu địa phương
Đầu năm 2000Rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận khu dự trữ sinh quyển thế giới, khu đầu tiên của Việt NamChắc chắn
1/7/2025Bỏ cấp huyện; vùng Cần Giờ thành bốn xã Cần Giờ, Bình Khánh, An Thới Đông, Thạnh AnChắc chắn

Bảng cố ý không ghi những mốc mà các nguồn phổ thông nêu khác nhau, như năm đặt từng đơn vị hành chính thời Pháp thuộc hay giai đoạn 1954–1975. Thiếu một mốc còn hơn ghi một mốc sai rồi bị chép đi khắp nơi.

Chặng 1 — Trước khi có tên: người cổ trên giồng cát

Câu chuyện bắt đầu từ địa hình. Vùng cửa sông Đồng Nai – Sài Gòn là châu thổ trẻ, đường bờ biển lùi dần qua hàng nghìn năm, để lại những gờ cát cao người Nam Bộ gọi là giồng. Trên các giồng ấy, cư dân cổ dựng nhà, khai thác cá, sò, ốc, củi trong rừng ngập mặn, và chôn người chết trong những chiếc chum gốm lớn.

Di chỉ Giồng Cá Vồ với hàng trăm mộ chum, cùng dấu vết cư trú ở Giồng Am, cho thấy cộng đồng ở đây không biệt lập. Đồ trang sức bằng đá quý, thuỷ tinh, đặc biệt là khuyên tai hai đầu thú, giống với những gì tìm thấy ở nhiều vùng quanh Biển Đông. Cửa sông Cần Giờ đã là điểm nối với thế giới bên ngoài từ trước Công nguyên.

Sau giai đoạn này là một khoảng dài mà tư liệu gần như im lặng. Vùng hạ lưu có thể đã nằm trong không gian ảnh hưởng của các cộng đồng cổ ở Nam Bộ, có cư dân Khmer sinh sống, nhưng dấu vết cụ thể ở Cần Giờ cho các thế kỷ này còn ít được biết tới.

Chặng 2 — Cửa biển của Gia Định

Từ cuối thế kỷ XVII, khi chúa Nguyễn lập phủ Gia Định, cửa biển Cần Giờ bước vào lịch sử thành văn. Thuyền buôn từ nhiều nước vào Bến Nghé đều qua vùng cửa sông này, đi theo con nước trên những dòng sông xuyên rừng. Các sách địa chí thời Nguyễn chép cửa biển như một điểm canh giữ quan trọng.

Cư dân thời kỳ này thưa thớt, chủ yếu là các xóm chài trên giồng cát, làm nghề cá, nghề muối, lấy củi đước. Cũng từ đây, lối đặt tên làng theo chữ Hán Việt mang ý cầu chúc dần phủ lên vùng đất, bên cạnh lớp tên dân gian theo địa hình như giồng, vàm, rạch, doi.

Năm 1859 là bước ngoặt. Liên quân Pháp – Tây Ban Nha chọn đúng con đường của thương thuyền: vào cửa Cần Giờ, ngược sông, phá các đồn luỹ, chiếm thành Gia Định trong tháng 2. Vị trí "cổ họng đường thuỷ" của Cần Giờ chưa bao giờ hiện ra rõ như vậy.

Chặng 3 — Thời Pháp thuộc: luồng tàu và rừng bị khai thác

Dưới thời Pháp, Sài Gòn thành thương cảng lớn của Đông Dương. Tuyến sông qua Cần Giờ được khảo sát, đặt phao tiêu, nạo vét; luồng Lòng Tàu thành con đường chính cho tàu biển. Vùng đất hai bên luồng vẫn chủ yếu là rừng và làng chài, giá trị của nó với chính quyền thuộc địa nằm ở chỗ giữ an toàn cho đường tàu.

Rừng đước cũng bắt đầu chịu áp lực từ đô thị: củi, than, vỏ cây được khai thác để phục vụ thành phố. Đây là lớp tác động đầu tiên của con người hiện đại lên Rừng Sác, trước khi chiến tranh mang tới những tác động nặng nề hơn nhiều.

Đơn vị hành chính quản lý vùng này thời kỳ ấy thay đổi nhiều lần. Người cần chi tiết nên tra niên giám hành chính và hồ sơ lưu trữ, vì các trang tổng hợp thường nêu lệch nhau.

Đời sống người dân trong chặng này ít được ghi chép. Có thể hình dung qua những gì còn lại: các xóm chài trên giồng, nghề đáy ở cửa sông, ruộng muối ở những bãi phẳng, chợ nhỏ họp theo chuyến ghe. Đó là nền nếp mà các thế hệ sau thừa hưởng gần như nguyên vẹn cho tới khi chiến tranh lan rộng.

Chặng 4 — Rừng Sác thời chiến

Trong cả hai cuộc kháng chiến, Rừng Sác là nơi đứng chân của các lực lượng vùng ven Sài Gòn. Giữa thập niên 1960, Đặc khu Rừng Sác được lập, Đoàn 10 đặc công trở thành lực lượng nòng cốt, chuyên đánh tàu trên luồng Lòng Tàu và đánh vào các kho, căn cứ quanh thành phố. Người dân các ấp ven rừng tham gia tiếp tế, dẫn đường.

Cái giá vùng đất phải trả rất lớn. Để bảo vệ luồng tàu, rừng bị rải chất làm rụng lá dày đặc, cùng với bom đạn và các đợt càn. Đến năm 1975, phần lớn Rừng Sác chỉ còn là những thân cây chết trên bãi bùn. Đời sống người dân, nguồn cá tôm, đất đai đều bị ảnh hưởng.

Ký ức chặng này còn rõ ở Cần Giờ hôm nay: trong các gia đình có người tham gia, trong những lần cựu chiến binh trở lại, và trong Khu di tích lịch sử Rừng Sác được phục dựng ở vùng Long Hòa cũ.

Chặng 5 — Huyện Duyên Hải và cuộc trồng lại rừng

Sau 1975, vùng đất được tổ chức thành huyện Duyên Hải, đến năm 1978 về với TP Hồ Chí Minh. Cùng thời gian đó, thành phố mở chương trình trồng lại rừng ngập mặn quy mô lớn, chủ yếu bằng cây đước, với lực lượng lâm trường, thanh niên xung phong và người dân. Trái đước giống, theo nhiều lời kể, được chở từ vùng Cà Mau lên.

Thập niên 1980 là thời kỳ thiếu thốn: chưa có đường bộ tốt, đi lại bằng ghe tàu, thiếu nước ngọt, điện, trường, trạm y tế. Người dân sống bằng cá, muối, ruộng mặn, và dần chuyển sang nhận khoán bảo vệ rừng. Khu rừng non lớn lên trong chính giai đoạn khó khăn nhất ấy.

Năm 1991, huyện được đổi lại tên Cần Giờ, cái tên đã sống bền trong lời ăn tiếng nói suốt những năm mang tên Duyên Hải.

Chặng 6 — Huyện Cần Giờ, khu dự trữ sinh quyển và bốn xã mới

Từ thập niên 1990, đường bộ xuyên rừng nối phà Bình Khánh với vùng biển dần hoàn thiện, điện nước về nhiều khu dân cư, du lịch sinh thái hình thành. Đầu năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, đưa câu chuyện rừng hồi sinh ra với thế giới.

Những năm sau đó, Cần Giờ thành vùng được nhắc nhiều trong các kế hoạch lớn của thành phố về cảng biển, đô thị, giao thông, cùng những tranh luận về bảo tồn rừng. Các dự án ấy được trình bày ở mục kinh tế biển của trang theo những gì đã công bố chính thức.

Ngày 1/7/2025, cấp huyện bị bỏ. Thị trấn Cần Thạnh và sáu xã cũ được gom thành bốn xã: Cần Giờ, Bình Khánh, An Thới Đông, Thạnh An. Cùng lúc, TP Hồ Chí Minh hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. "Huyện Cần Giờ" trở thành tên lịch sử, còn "Cần Giờ" vừa là tên một xã vừa là tên chung của cả vùng.

Những sợi chỉ xuyên suốt các chặng

Đặt các chặng cạnh nhau, có vài điều lặp lại qua mọi thời kỳ, giúp hiểu vì sao Cần Giờ là Cần Giờ:

  • Cửa ngõ đường thuỷ. Từ thời cư dân cổ trao đổi đồ trang sức qua biển, qua thương thuyền thời Nguyễn, hạm đội năm 1859, luồng tàu thời chiến, tới tàu container hôm nay, Cần Giờ luôn nằm trên con đường nối Sài Gòn với biển.
  • Sống theo con nước. Người cổ chọn giồng để tránh triều, thuyền xưa chờ nước để vào sông, lính Rừng Sác tính giờ theo nước lớn nước ròng, người trồng rừng cắm đước theo con nước. Thuỷ triều là chiếc đồng hồ chung của mọi thế hệ.
  • Rừng là lá chắn và là nguồn sống. Rừng nuôi cư dân cổ, che chở người kháng chiến, bị huỷ diệt rồi được trồng lại. Số phận vùng đất gắn với số phận khu rừng.
  • Xa mà gần. Cách trung tâm thành phố không quá xa theo đường chim bay, nhưng bị sông lớn và rừng ngăn cách. Cảm giác "vùng xa" định hình đời sống nhiều thế hệ.

Khi đọc bất kỳ bài nào về Cần Giờ, dù là lịch sử, sinh thái hay kinh tế, bốn sợi chỉ này thường xuất hiện lại. Chúng là khung để đặt các chi tiết vào đúng chỗ.

Câu hỏi thường gặp

Cần Giờ có người ở từ bao giờ?

Theo kết quả khảo cổ ở Giồng Cá Vồ và Giồng Am, cư dân cổ đã sống trên các giồng cát vùng Cần Giờ từ khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, tức hơn hai nghìn năm trước. Niên đại cụ thể thay đổi theo mẫu đo.

Cần Giờ thuộc TP Hồ Chí Minh từ khi nào?

Theo các tài liệu địa phương, vùng này về TP Hồ Chí Minh năm 1978 dưới tên huyện Duyên Hải, đến năm 1991 đổi tên thành huyện Cần Giờ. Từ 1/7/2025, vùng gồm bốn xã thuộc TP Hồ Chí Minh.

Rừng Cần Giờ được công nhận khu dự trữ sinh quyển năm nào?

Rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào đầu năm 2000. Đây là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam.

Vì sao lịch sử Cần Giờ trước 1975 có nhiều chỗ chưa rõ?

Vì vùng này dân cư thưa, ít văn bản do chính cư dân để lại, và đơn vị hành chính thay đổi nhiều lần qua các chính quyền. Các nguồn phổ thông thường chép lại nhau mà không dẫn văn bản gốc, nên nhiều mốc cần tra lưu trữ mới chắc.

Nên đọc gì để tìm hiểu lịch sử Cần Giờ một cách nghiêm túc?

Nên bắt đầu từ địa chí thời Nguyễn như Gia Định thành thông chí, các công bố khảo cổ về Giồng Cá Vồ, lịch sử Đặc khu Rừng Sác đã xuất bản, địa chí địa phương, và các văn bản hành chính trong cơ sở dữ liệu pháp luật.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.