CanGio.orgCần Giờ
Lịch sử và tên gọi

Di chỉ Giồng Cá Vồ ở Cần Giờ: khu mộ chum cổ kể gì về cư dân ven biển xưa

Giồng Cá Vồ là khu mộ chum cổ trên giồng cát ở Long Hòa cũ, nay xã Cần Giờ. Phát hiện ra sao, có những hiện vật gì, và vì sao giới khảo cổ coi trọng nơi này.

Low angle view of a slightly raised sandy ridge covered with grass and old trees, surrounded by flat mangrove land, a simple open shelter roof in the distance, overcast soft light

Giồng Cá Vồ là một di chỉ khảo cổ trên giồng cát thuộc xã Long Hòa cũ, nay nằm trong xã Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh). Đây là khu mộ táng của cư dân cổ sống ven biển từ khoảng hai đến ba nghìn năm trước, nổi tiếng với hàng trăm mộ chum bằng gốm và nhiều đồ trang sức bằng đá quý, thuỷ tinh, kim loại, trong đó có loại khuyên tai hai đầu thú vốn được tìm thấy ở nhiều nơi quanh Biển Đông.

Di chỉ được phát hiện và khai quật vào thập niên 1990, mở ra một chương mà trước đó ít ai nghĩ tới: vùng rừng ngập mặn tưởng chỉ mới có người ở vài trăm năm thực ra đã là nơi sinh sống, chôn cất, giao lưu của các cộng đồng cổ từ trước Công nguyên. Bài này tóm tắt những điều đã được công bố rộng rãi, phân biệt chỗ chắc chắn với chỗ giới nghiên cứu còn bàn.

"Giồng" là gì và vì sao người cổ chọn ở trên giồng

Giồng là những dải đất cát cao hơn xung quanh vài mét, chạy dài song song với đường bờ biển cổ. Chúng hình thành khi biển lùi dần qua hàng nghìn năm, sóng và gió dồn cát thành những gờ nổi, sau đó phù sa sông bồi kín vùng trũng giữa các gờ. Ở vùng Cần Giờ, các giồng nổi lên giữa biển rừng ngập mặn như những hòn đảo nhỏ trên đất liền.

Với cư dân cổ, giồng là nơi lý tưởng: đất cao nên không ngập khi triều lên, đất cát thoát nước nên có thể đào giếng lấy nước ngọt hơn so với vùng sình xung quanh, và nằm sát rừng, sát sông nên dễ kiếm cá, sò, ốc, cua. Chôn người chết trên giồng cũng giữ được mộ khỏi nước mặn tràn vào. Không ngạc nhiên khi nhiều làng của người Cần Giờ ngày nay vẫn nằm trên các giồng cũ.

Tên "Cá Vồ" là tên dân gian của giồng, theo tên một loài cá quen thuộc ở vùng nước lợ Nam Bộ. Như nhiều địa danh nhỏ khác, tên giồng có từ trước khi giới khảo cổ biết đến nơi này.

Phát hiện và khai quật

Giồng Cá Vồ được phát hiện vào đầu thập niên 1990, khi người dân và cán bộ địa phương thấy những mảnh gốm, mảnh chum lộ ra trong quá trình đào đất. Sau đó các đợt khai quật do giới khảo cổ học TP Hồ Chí Minh thực hiện, có sự tham gia của các chuyên gia trong nước, đã làm lộ ra một khu mộ táng quy mô lớn.

Điều gây ngạc nhiên là mật độ mộ. Theo các công bố được giới thiệu rộng rãi, khu di chỉ có tới hàng trăm mộ chum, xếp khá dày trên một diện tích không lớn. Trong chum là xương cốt người, có khi nhiều hơn một cá thể, kèm đồ tuỳ táng. Một số mộ là mộ đất, chôn trực tiếp không có chum.

Vì nằm giữa vùng ngập mặn, việc khai quật gặp nhiều khó khăn: mực nước ngầm cao, đất cát dễ sụp, hiện vật kim loại bị muối ăn mòn. Một phần kết quả nghiên cứu được trưng bày ở bảo tàng của thành phố, phần còn lại được lưu giữ cho nghiên cứu. Tại chỗ có khu trưng bày, bảo vệ di chỉ để khách có thể tới xem.

Những hiện vật đáng chú ý

Chum gốm. Chum là đồ đựng lớn bằng gốm nung, dáng tròn hoặc bầu, có nắp đậy. Kỹ thuật làm chum cho thấy cư dân đã làm gốm thành thạo, có thể sản xuất số lượng lớn. Hình dáng và hoa văn chum là căn cứ quan trọng để so sánh Giồng Cá Vồ với các di chỉ khác ở Đông Nam Bộ và miền Trung.

Khuyên tai hai đầu thú. Đây là loại hiện vật được nhắc tới nhiều nhất. Khuyên tai có dạng vòng cong, hai đầu tạc hình đầu thú, thường bằng đá ngọc. Loại khuyên này được tìm thấy ở nhiều di chỉ quanh Biển Đông, từ miền Trung Việt Nam (văn hoá Sa Huỳnh) tới Philippines, Đài Loan và Thái Lan. Sự có mặt của chúng ở Giồng Cá Vồ cho thấy cư dân nơi đây nằm trong một mạng lưới trao đổi biển rộng.

Trang sức đá, thuỷ tinh, kim loại. Hạt chuỗi bằng đá quý, thuỷ tinh nhiều màu, vòng tay, đồ vàng nhỏ được tìm thấy với số lượng đáng kể. Một số loại đá và thuỷ tinh không có nguồn tại chỗ, phải đến từ nơi khác qua trao đổi. Đồ kim loại bao gồm đồ sắt, đồ đồng, cho thấy cư dân đã ở thời kỳ dùng kim loại.

Dấu vết đời sống thường ngày. Xương cá, vỏ sò ốc, dụng cụ đánh bắt bằng đá, gốm gia dụng cho biết người cổ sống chủ yếu nhờ khai thác nguồn lợi sông biển và rừng ngập mặn, đúng như cách nhiều gia đình Cần Giờ vẫn sống tới tận gần đây.

Niên đại và vị trí trong lịch sử Nam Bộ

Các phân tích niên đại được công bố đặt Giồng Cá Vồ vào khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, tức chừng hai đến ba nghìn năm trước ngày nay. Các con số cụ thể khác nhau theo mẫu và phương pháp đo, nên các bài viết phổ thông thường ghi khoảng, và người đọc nên coi đó là khoảng thời gian chứ không phải một năm chính xác.

Giới nghiên cứu thường xếp Giồng Cá Vồ vào thời đại kim khí ở Đông Nam Bộ, có quan hệ với văn hoá Đồng Nai ở vùng trong và có nhiều điểm gần với văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung, nhất là về tục mộ chum và đồ trang sức. Mức độ gần gũi giữa các nền văn hoá này, cũng như việc cư dân Giồng Cá Vồ là ai, nói ngôn ngữ gì, là những câu hỏi còn đang được bàn.

Điều được thống nhất nhiều hơn là ý nghĩa của di chỉ: vùng cửa sông Cần Giờ, từ hàng nghìn năm trước, đã là một điểm giao lưu biển. Cư dân nơi đây đón hàng từ xa, có thể cả đưa hàng đi, trong một mạng lưới trao đổi trải khắp Biển Đông. Vị trí "cửa ngõ ra biển" của Cần Giờ, vì thế, không phải chuyện mới.

Những điều còn đang được bàn

Như nhiều di chỉ lớn, Giồng Cá Vồ để lại nhiều câu hỏi hơn câu trả lời. Một số câu hỏi đang được giới khảo cổ bàn luận, chưa có kết luận dứt khoát:

  • Cư dân Giồng Cá Vồ có quan hệ thế nào với cư dân các giồng lân cận như Giồng Am: cùng một cộng đồng ở và chôn tại hai nơi, hay hai cộng đồng khác nhau?
  • Các đồ trang sức đá ngọc được làm tại chỗ hay nhập về hoàn chỉnh; nếu nhập, nguồn đá và xưởng chế tác ở đâu?
  • Tục chôn trong chum mang ý nghĩa gì trong quan niệm của người cổ, và vì sao có chum chứa nhiều người?
  • Cộng đồng ở đây tồn tại bao lâu, vì sao không thấy dấu vết liên tục tới các thời kỳ sau?
  • Quan hệ giữa Giồng Cá Vồ và các trung tâm lớn hơn của thời kỳ sau, như văn hoá Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ, có hay không và ở mức nào?

Khi đọc các bài viết về Giồng Cá Vồ, nên tỉnh táo với những câu khẳng định quá chắc, kiểu "cư dân Giồng Cá Vồ là tổ tiên của dân tộc X". Những kết luận như vậy vượt quá những gì tư liệu khảo cổ hiện có cho phép.

Đến xem di chỉ: nên biết gì trước

Di chỉ nằm trong vùng Long Hòa cũ, không xa trục đường chính dẫn xuống khu dân cư ven biển. Khách tới thường thấy một khu đất cao, có mái che bảo vệ một phần hố khai quật và khu trưng bày nhỏ. Đừng kỳ vọng một bảo tàng lớn; giá trị của nơi này nằm ở chỗ được đứng trên chính giồng cát mà người cổ đã chọn để sống và chôn cất người thân.

Vì là di tích được bảo vệ, khách không được tự ý đào bới, nhặt mảnh gốm hay mang bất cứ thứ gì về. Một mảnh gốm nhặt lên tưởng vô hại có thể làm mất thông tin về lớp đất, vị trí, thứ mà nhà khảo cổ cần để đọc ra lịch sử. Nếu tình cờ thấy hiện vật lộ ra ở những giồng khác trong vùng, cách đúng là báo cho chính quyền xã để cơ quan chuyên môn xử lý.

Giờ mở cửa, cách vào xem có thể thay đổi; nên hỏi trước ở địa phương. Kết hợp đến xem phần hiện vật được trưng bày ở bảo tàng trong nội thành sẽ giúp hiểu đầy đủ hơn những gì thấy ở hiện trường.

Giồng Cá Vồ trong đời sống người Cần Giờ hôm nay

Với nhiều người dân Long Hòa, Cần Thạnh, Giồng Cá Vồ trước kia chỉ là một gò đất trồng cây, chăn bò như mọi gò khác. Việc nó trở thành di chỉ nổi tiếng thay đổi cách họ nhìn vùng đất của mình: không còn là vùng "mới khai phá", mà là nơi có người ở từ rất xa xưa.

Trường học trong vùng thường đưa học sinh tới tham quan di chỉ, coi như một tiết học lịch sử ngoài trời. Đối với người làm du lịch cộng đồng, Giồng Cá Vồ là điểm dừng giúp khách hiểu rằng câu chuyện Cần Giờ không chỉ có rừng, biển và hải sản, mà còn có chiều sâu thời gian.

Bảo vệ di chỉ cũng là bài toán khi vùng đất phát triển. Mọi công trình mới trên các giồng cát đều có thể đụng tới tầng văn hoá cổ chưa được phát hiện. Đây là lý do các dự án xây dựng trong khu vực có giồng thường phải tính tới khảo sát khảo cổ trước khi đào móng.

Giồng Cá Vồ và con đường nghiên cứu khảo cổ ở TP Hồ Chí Minh

Trước khi Giồng Cá Vồ được phát hiện, khảo cổ học tiền sử ở vùng TP Hồ Chí Minh chủ yếu được biết qua các điểm ở vùng đất cao phía bắc và các di chỉ thuộc văn hoá Đồng Nai ở miền Đông. Vùng ngập mặn phía nam thường bị coi là đất quá trẻ, quá ướt để giữ được dấu vết người xưa. Giồng Cá Vồ, cùng các phát hiện trên những giồng lân cận, đã lật lại giả định ấy.

Bài học về phương pháp ở đây có ích cho cả người không làm khảo cổ: một vùng đất trông "mới" trên bề mặt có thể che giấu lịch sử rất sâu. Đường bờ biển cũ, giồng cát cũ là chỗ cần nhìn kỹ, vì đó là nơi con người luôn chọn để ở. Nhiều nhà nghiên cứu sau này dùng chính logic ấy để khoanh vùng khảo sát ở các vùng ven biển khác của Nam Bộ.

Giồng Cá Vồ cũng cho thấy giá trị của việc người dân báo tin. Một mảnh gốm lộ ra khi đào đất, nếu bị lấp đi hay bán cho người buôn đồ cổ, có thể đã khiến cả khu mộ bị phá trước khi ai kịp biết. Việc phát hiện được báo lên và được khai quật bài bản là lý do hôm nay ta có những hiểu biết kể trên.

Câu hỏi thường gặp

Giồng Cá Vồ thuộc xã nào sau 2025?

Di chỉ nằm trong địa bàn xã Long Hòa cũ. Từ 1/7/2025, xã Long Hòa cùng thị trấn Cần Thạnh hợp thành xã Cần Giờ, nên Giồng Cá Vồ nay thuộc xã Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh.

Mộ chum là gì?

Mộ chum là cách chôn người chết trong một chiếc chum lớn bằng gốm, có nắp đậy, rồi chôn chum xuống đất. Tục này có ở nhiều nền văn hoá cổ ven Biển Đông, nổi tiếng nhất ở Việt Nam là văn hoá Sa Huỳnh miền Trung. Giồng Cá Vồ là một trong những khu mộ chum lớn ở Nam Bộ.

Giồng Cá Vồ có từ bao giờ?

Theo các công bố khảo cổ, di chỉ thuộc khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, tức chừng hai đến ba nghìn năm trước. Con số cụ thể thay đổi theo mẫu và phương pháp xác định niên đại, nên nên hiểu là một khoảng thời gian.

Hiện vật Giồng Cá Vồ được trưng bày ở đâu?

Một phần hiện vật được trưng bày ở bảo tàng trong nội thành TP Hồ Chí Minh, một phần ở khu trưng bày tại di chỉ. Nơi trưng bày và cách vào xem có thể thay đổi, nên hỏi trước cơ quan văn hoá hoặc chính quyền xã.

Khuyên tai hai đầu thú nói lên điều gì?

Loại khuyên tai này có mặt ở nhiều di chỉ quanh Biển Đông, từ miền Trung Việt Nam tới Philippines và Đài Loan. Việc tìm thấy chúng ở Giồng Cá Vồ cho thấy cư dân cổ ở Cần Giờ có giao lưu, trao đổi trong một mạng lưới biển rộng lớn.

Nhặt được mảnh gốm cổ ở Cần Giờ thì làm gì?

Không nên mang về hay đào thêm. Cứ để nguyên tại chỗ, ghi nhớ vị trí và báo cho chính quyền xã hoặc cơ quan văn hoá. Vị trí và lớp đất nơi hiện vật nằm mang thông tin mà nhà khảo cổ cần, mất đi là không lấy lại được.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.