Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận vào đầu năm 2000, là khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam. Khu có tổng diện tích khoảng 75 nghìn ha, trải trên phần lớn vùng huyện Cần Giờ cũ (nay bốn xã Cần Giờ, Bình Khánh, An Thới Đông, Thạnh An), chia thành ba vùng: vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm vừa bảo vệ vừa cho phép một số hoạt động, và vùng chuyển tiếp nơi người dân sinh sống, sản xuất.
Danh hiệu khu dự trữ sinh quyển không phải là một lệnh cấm, cũng không phải một tấm bằng khen. Nó là cam kết quản lý theo một mô hình riêng: giữ thiên nhiên đồng thời cho người sống cạnh thiên nhiên làm ăn được. Bài này giải thích mô hình ấy, cách nó áp vào Cần Giờ, và những điều người dân, khách tham quan, người làm ăn trong vùng nên biết.
Khu dự trữ sinh quyển là gì
Khu dự trữ sinh quyển là danh hiệu thuộc Chương trình Con người và Sinh quyển (thường viết tắt MAB) của UNESCO, khởi động từ đầu thập niên 1970. Khác với vườn quốc gia hay khu bảo tồn, vốn đặt trọng tâm vào việc bảo vệ thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển đặt ba mục tiêu cùng lúc: bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế – xã hội bền vững cho cộng đồng địa phương, và hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục, quan trắc.
Một khu dự trữ sinh quyển vẫn thuộc chủ quyền và luật pháp của quốc gia sở tại. UNESCO không quản lý đất đai, không cấp phép hay cấm đoán. Việc công nhận là sự ghi nhận rằng khu vực có giá trị sinh thái nổi bật và có một kế hoạch quản lý hợp lý; đổi lại, quốc gia cam kết duy trì mô hình ấy và báo cáo định kỳ, thường là mười năm một lần.
Khu dự trữ sinh quyển được đưa vào một mạng lưới toàn cầu gồm hàng trăm khu ở nhiều quốc gia. Việt Nam hiện có nhiều khu dự trữ sinh quyển, trải từ rừng núi phía Bắc tới vùng biển đảo phía Nam; Cần Giờ là khu đầu tiên, và là một trong số ít khu nằm ngay cạnh một đô thị lớn.
Ba vùng chức năng và áp vào Cần Giờ
Mỗi khu dự trữ sinh quyển được chia thành ba vùng với mức độ bảo vệ giảm dần từ trong ra ngoài. Ở Cần Giờ, cách chia ấy gắn với địa hình rừng và khu dân cư như sau:
| Vùng | Mục đích | Ở Cần Giờ thường là |
|---|---|---|
| Vùng lõi | Bảo vệ nghiêm ngặt hệ sinh thái, hạn chế tối đa tác động của con người | Những khu rừng ngập mặn được bảo vệ chặt, xa khu dân cư, ít đường vào |
| Vùng đệm | Bao quanh vùng lõi; cho phép hoạt động không làm hại vùng lõi như nghiên cứu, du lịch sinh thái có kiểm soát, khai thác hạn chế | Phần lớn diện tích rừng phòng hộ, gồm các khoảnh giao khoán cho hộ dân bảo vệ |
| Vùng chuyển tiếp | Nơi dân cư sinh sống, sản xuất theo hướng bền vững | Khu dân cư, ruộng muối, đầm nuôi, đồng ruộng, thị tứ ở cả bốn xã |
Diện tích từng vùng được nêu trong hồ sơ công nhận và quy hoạch quản lý; vùng lõi là phần nhỏ nhất. Ranh giới cụ thể có thể được điều chỉnh qua các lần rà soát, nên khi cần chính xác cho một khu đất, cần hỏi cơ quan quản lý rừng.
Vì sao Cần Giờ được công nhận
Hồ sơ công nhận của Cần Giờ dựa trên vài giá trị nổi bật. Thứ nhất là quy mô và tính liên tục của hệ sinh thái rừng ngập mặn ở cửa sông, với nhiều loài cây, động vật đặc trưng vùng triều. Thứ hai là câu chuyện phục hồi: một khu rừng gần như bị huỷ diệt trong chiến tranh đã được trồng lại và tái sinh trên quy mô lớn, trở thành bài học cho các vùng ven biển khác.
Thứ ba là vị trí: ngay cạnh một đô thị lớn, khu rừng có vai trò che chắn, điều hoà và là nơi nghiên cứu, giáo dục thuận tiện cho hàng triệu người. Thứ tư là sự tham gia của cộng đồng, thể hiện qua cơ chế giao khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, một yếu tố quan trọng theo tiêu chí của chương trình MAB.
Chính những giá trị này cũng là thước đo để đánh giá khu dự trữ trong các lần rà soát định kỳ. Nếu rừng bị thu hẹp mạnh, chức năng bị phá vỡ, danh hiệu có thể bị xem xét lại, như đã từng xảy ra với một số khu ở các nước khác.
Ai quản lý khu rừng
Rừng ngập mặn Cần Giờ chủ yếu là rừng phòng hộ, do một ban quản lý rừng phòng hộ của thành phố trực tiếp quản lý, dưới sự chỉ đạo của cơ quan nông nghiệp và môi trường thành phố. Rừng được chia thành các tiểu khu, khoảnh để quản lý, theo dõi. Một phần diện tích được giao khoán cho các hộ gia đình, đơn vị bảo vệ theo hợp đồng.
Các khu du lịch sinh thái nằm trong rừng, như khu Lâm viên hay khu Vàm Sát, hoạt động theo các quy định riêng về bảo vệ rừng và được cơ quan quản lý giám sát. Các hoạt động nghiên cứu khoa học trong rừng thường cần được phép của ban quản lý.
Sau khi bỏ cấp huyện năm 2025, rừng nằm trên địa bàn của nhiều xã mới, nhưng việc quản lý rừng phòng hộ vẫn theo hệ thống chuyên ngành, không bị chia theo ranh giới xã. Người dân có việc liên quan đến đất rừng nên hỏi cơ quan quản lý rừng và chính quyền xã cùng lúc.
Sống trong khu dự trữ sinh quyển: những điều thực tế
Không phải cái gì cũng bị cấm. Người dân trong vùng chuyển tiếp vẫn xây nhà, làm muối, nuôi tôm, buôn bán, mở dịch vụ theo quy định chung về đất đai, xây dựng. Danh hiệu không tự động tạo ra lệnh cấm mới; những hạn chế chủ yếu đến từ quy chế rừng phòng hộ.
Đất rừng phòng hộ có hạn chế riêng. Chặt cây, san lấp, xây dựng, đào đắp trong đất rừng phòng hộ bị hạn chế chặt chẽ. Ai định mua bán, sử dụng đất gần rừng cần tìm hiểu kỹ loại đất và quy chế áp dụng, kiểm quy định hiện hành, không tin vào lời hứa "giấy tờ sẽ xong".
Khai thác thuỷ sản có quy định. Bắt cua, ốc, cá trong rừng là sinh kế lâu đời của nhiều gia đình. Ở vùng đệm, việc này được phép ở mức và theo cách nhất định; ở vùng lõi bị hạn chế. Các phương tiện huỷ diệt như xung điện, chất độc đều bị cấm ở mọi nơi.
Khách tham quan cũng có trách nhiệm. Không bẻ cây, không mang trái đước giống về, không cho khỉ ăn bừa bãi, không xả rác xuống rạch. Những việc nhỏ ấy, nhân với hàng trăm nghìn lượt khách mỗi năm, quyết định chất lượng khu rừng.
Những áp lực khu dự trữ đang đối mặt
Như mọi vùng sinh thái cạnh đô thị lớn, rừng Cần Giờ chịu nhiều áp lực. Nước sông từ thượng nguồn và từ thành phố đổ xuống mang theo chất thải sinh hoạt, công nghiệp, rác nhựa; rác mắc trên rễ đước là cảnh dễ thấy ở nhiều khúc sông. Hoạt động tàu thuyền dày đặc trên các luồng tạo sóng, góp phần xói lở bờ.
Nhu cầu đất cho đô thị, cảng, du lịch, hạ tầng giao thông tạo ra những tranh luận lớn về cách cân bằng giữa phát triển và bảo tồn. Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, thay đổi lượng phù sa từ thượng nguồn là những áp lực dài hạn khó thấy hơn nhưng không kém phần quan trọng.
Một áp lực khác ít được nói tới là bản thân cấu trúc rừng. Vì phần lớn là rừng đước trồng cùng thời kỳ, khu rừng có nhiều nơi đồng tuổi, ít loài, dễ bị tổn thương hơn rừng tự nhiên trước sâu bệnh hay biến động môi trường. Quản lý để rừng đa dạng hơn là việc dài hơi.
Cần Giờ và những dải rừng ngập mặn lân cận
Rừng ngập mặn Cần Giờ không đứng một mình. Bên kia sông Thị Vải về phía đông, bên kia sông Soài Rạp về phía tây, và ngược lên phía Nhơn Trạch, vẫn còn những dải rừng ngập mặn, có nơi liền mạch về sinh thái với Cần Giờ. Chim nước, cá, tôm, trụ mầm cây trôi theo nước không biết ranh giới hành chính; một khu rừng khoẻ ở bên này sông góp phần nuôi rừng bên kia.
Ở quy mô Nam Bộ, Cần Giờ là một mắt xích trong chuỗi rừng ngập mặn ven biển kéo dài xuống tận Mũi Cà Mau, nơi cũng được UNESCO công nhận khu dự trữ sinh quyển vào năm 2009. Giữa hai đầu ấy, nhiều đoạn rừng ven biển đồng bằng sông Cửu Long đã bị chuyển đổi sang nuôi tôm hoặc bị sạt lở, khiến chuỗi bị đứt quãng.
Nhìn như vậy để thấy giá trị của Cần Giờ không chỉ nằm trong ranh giới của nó. Những gì xảy ra ở thượng nguồn, ở các vùng ven biển lân cận, như lượng phù sa, chất lượng nước, sự còn mất của các dải rừng khác, đều ảnh hưởng tới khu rừng. Ngược lại, Cần Giờ là nguồn giống, nơi trú ẩn cho sinh vật của cả vùng cửa sông rộng lớn.
Đọc thông tin về khu dự trữ cho đúng
Trên mạng có nhiều con số về Cần Giờ: diện tích rừng, số loài cây, số loài động vật, lượng cacbon hấp thụ. Các con số này đến từ những đợt khảo sát ở những thời điểm khác nhau, theo phương pháp khác nhau, nên thường không khớp. Khi trích dẫn, nên ghi rõ nguồn và năm, và hiểu rằng số liệu có thể đã thay đổi.
Cũng cần phân biệt "rừng ngập mặn Cần Giờ" với "khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ". Khu dự trữ bao gồm cả vùng chuyển tiếp có làng mạc, ruộng muối, đầm nuôi; diện tích rừng thật sự nhỏ hơn tổng diện tích khu dự trữ. Nói "khu dự trữ sinh quyển rộng khoảng 75 nghìn ha toàn là rừng" là nhầm.
Tương tự, cụm từ "lá phổi xanh của thành phố" thường được dùng cho Cần Giờ là một cách nói hình ảnh. Rừng ngập mặn có giá trị lớn về hấp thụ cacbon, điều hoà khí hậu cục bộ, nhưng không cung cấp ôxy cho thành phố theo nghĩa đen như nhiều người vẫn hiểu.
Câu hỏi thường gặp
Cần Giờ được công nhận khu dự trữ sinh quyển năm nào?
Rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào đầu năm 2000. Đây là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam trong mạng lưới của Chương trình Con người và Sinh quyển.
Khu dự trữ sinh quyển khác vườn quốc gia thế nào?
Vườn quốc gia đặt trọng tâm bảo vệ thiên nhiên, hạn chế nhiều hoạt động của con người. Khu dự trữ sinh quyển kết hợp bảo tồn với phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng và nghiên cứu, có cả vùng dân cư sinh sống bên trong ranh giới.
Danh hiệu UNESCO có thể bị rút không?
Các khu dự trữ sinh quyển được rà soát định kỳ, thường mười năm một lần. Nếu khu vực không còn đáp ứng tiêu chí hoặc quản lý yếu kém, UNESCO có thể yêu cầu cải thiện, và trong một số trường hợp ở nước khác, khu đã bị đưa ra khỏi mạng lưới.
Sống trong vùng chuyển tiếp có bị hạn chế xây nhà không?
Vùng chuyển tiếp là nơi dân cư sinh sống, sản xuất, áp dụng quy định chung về đất đai và xây dựng. Hạn chế chặt chẽ chủ yếu ở đất rừng phòng hộ. Trước khi xây dựng, nên hỏi chính quyền xã về loại đất và quy định hiện hành.
Diện tích khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ là bao nhiêu?
Theo hồ sơ công nhận thường được dẫn, tổng diện tích khoảng 75 nghìn ha, gồm cả vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp. Diện tích rừng thực tế nhỏ hơn con số này vì vùng chuyển tiếp có làng mạc, ruộng muối, đầm nuôi.
Muốn nghiên cứu trong rừng Cần Giờ cần làm gì?
Thông thường cần liên hệ ban quản lý rừng phòng hộ để xin phép, nêu rõ mục đích, phạm vi, thời gian và phương pháp. Các trường đại học, viện nghiên cứu có thể đã có quan hệ hợp tác sẵn với cơ quan quản lý.