Trong chiến tranh, vùng rừng ngập mặn Cần Giờ là một trong những nơi bị rải chất làm rụng lá dày đặc nhất ở miền Nam, vì nó che chở cho lực lượng đe doạ tuyến tàu vào Sài Gòn. Cộng với bom đạn và các đợt khai thác cạn kiệt, đến khi chiến tranh kết thúc, phần lớn Rừng Sác chỉ còn là những vùng cây chết đứng trơ trụi trên bãi bùn. Cuộc trồng lại rừng bắt đầu từ cuối thập niên 1970 là điểm xuất phát của khu rừng ngày nay.
Bài này nhìn chiến tranh từ phía khu rừng: vì sao rừng bị nhắm tới, cảnh quan sau chiến tranh ra sao, đời sống người dân trong những năm rừng chết, và quyết định trồng lại rừng đã được đưa ra trong hoàn cảnh nào. Phần kỹ thuật trồng và tái sinh rừng hôm nay được trình bày ở danh mục Rừng Sác, sông và biển.
Vì sao rừng ngập mặn bị nhắm tới
Trong chiến lược quân sự thời ấy, tán rừng dày là thứ bảo vệ đối phương: người, ghe xuồng, lán trại ẩn bên dưới, máy bay trinh sát không thấy. Để bảo vệ tuyến tàu biển trên luồng Lòng Tàu, phía quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn chủ trương làm trống hai bên bờ sông, phát quang để lộ những ai ẩn nấp.
Biện pháp được dùng rộng rãi là rải chất làm rụng lá từ máy bay. Các chất này, trong đó có loại về sau được gọi chung là chất độc da cam, làm cây rụng lá rồi chết. Rừng ngập mặn đặc biệt nhạy cảm: nhiều loài như đước chết sau một hai lần phun, khác với rừng nhiệt đới trên cạn đôi khi còn tái sinh được.
Bên cạnh chất làm rụng lá, vùng rừng chịu bom, pháo và các đợt hành quân. Những hố bom còn lại trong rừng nhiều năm sau, có hố biến thành ao nước, có hố bị bùn lấp dần. Người đi rừng lâu năm ở Cần Giờ vẫn nhận ra dấu vết ấy khi đi sâu vào các tiểu khu xa.
Cảnh quan sau 1975: một vùng rừng chết
Người từng xuống Cần Giờ những năm cuối thập niên 1970 kể lại một khung cảnh khó tin với ai chỉ biết khu rừng xanh hôm nay: những thân cây xám trắng đứng trơ trên bãi bùn nứt nẻ khi nước ròng, không lá, không bóng mát. Có vùng chỉ còn cỏ, cây bụi chịu mặn và lớp bùn trống trải nắng gắt.
Mất rừng kéo theo nhiều thay đổi dây chuyền. Bờ sông, bờ biển không còn rễ cây giữ đất, bắt đầu bị xói. Nguồn cá, tôm, cua vốn sống dựa vào rừng giảm mạnh. Nhiệt độ ban ngày trên những vùng trống cao hơn hẳn, gió biển thổi thẳng vào làng. Người dân mất cả nguồn củi, nguồn gỗ làm nhà, làm ghe.
Trong hoàn cảnh khó khăn chung của những năm đầu sau chiến tranh, phần rừng còn sót lại lại chịu thêm áp lực chặt phá để lấy củi, đốt than, mở đầm. Có giai đoạn tưởng như Rừng Sác sẽ không bao giờ hồi lại.
Những bức ảnh tư liệu chụp vùng rừng chết thời kỳ này, đôi khi được trưng bày ở các khu tham quan trong vùng, là cách nhanh nhất để hình dung quy mô tàn phá. Đặt chúng cạnh cảnh rừng hôm nay, người xem mới thấy hết khoảng cách mấy chục năm.
Những tổn thất khó đo đếm
Đa dạng sinh học. Nhiều loài động vật sống dựa vào rừng ngập mặn như khỉ, rái cá, các loài chim nước, cá sấu đã biến mất hoặc chỉ còn rất ít trong vùng. Một số loài sau này được thả lại hoặc tự quay về khi rừng hồi phục, nhưng tình trạng trước chiến tranh không thể biết chính xác vì thiếu ghi chép.
Đất và nước. Rừng chết làm thay đổi cách bùn được giữ lại, cách nước chảy trong các rạch nhỏ. Có những vùng bị bồi lấp, có vùng bị xói sâu. Phải nhiều năm sau khi rừng trồng khép tán, các quá trình này mới dần ổn định lại.
Sức khoẻ con người. Ảnh hưởng của chất độc hoá học thời chiến tới sức khoẻ người dân và người lính từng sống trong vùng bị rải là vấn đề được nghiên cứu và hỗ trợ suốt nhiều thập kỷ ở Việt Nam. Những ai lo ngại về sức khoẻ liên quan nên gặp bác sĩ và hỏi các tổ chức hỗ trợ nạn nhân về quyền lợi của mình, không tự kết luận.
Ký ức cộng đồng. Với người Cần Giờ lớn tuổi, những năm rừng chết là ký ức nặng nề. Nó giải thích vì sao nhiều người ở đây giữ rừng với một sự quyết liệt mà người ngoài đôi khi ngạc nhiên.
Quyết định trồng lại rừng cuối thập niên 1970
Năm 1978, cùng thời điểm vùng đất về với TP Hồ Chí Minh dưới tên huyện Duyên Hải, thành phố bắt đầu chương trình trồng lại rừng ngập mặn quy mô lớn. Đơn vị đầu mối là lâm trường của huyện, lực lượng lao động gồm công nhân lâm nghiệp, thanh niên xung phong và người dân địa phương.
Cây được chọn chủ yếu là đước, loài cây cao, rễ chống chắc, mọc nhanh trên bãi bùn ngập triều và vốn là loài chủ đạo của rừng trước chiến tranh. Theo nhiều lời kể, trái đước giống, tức những trụ mầm dài nảy ra ngay trên cây mẹ, được chở từ vùng rừng ngập mặn Cà Mau lên vì vùng Cần Giờ khi đó không còn đủ cây mẹ để lấy giống.
Công việc vất vả hơn những gì người ở thành phố tưởng: lội bùn tới đùi, cắm từng trái đước theo hàng, tính giờ theo con nước, giữa nắng gắt không bóng cây, không nước ngọt. Nhiều đợt trồng chết vì sai mùa, sai cao độ bãi, phải trồng lại. Những người tham gia những năm đầu ấy về sau thường được nhắc đến như những người "trồng lại Rừng Sác".
Từ rừng trồng tới khu dự trữ sinh quyển
Sau khoảng hai thập kỷ, những bãi đước trồng khép tán, cùng với cây tự mọc lại nhờ phù sa và trái giống trôi theo nước, đã phủ xanh phần lớn vùng từng trơ trụi. Động vật quay về: chim nước làm tổ, khỉ sinh sôi, cá tôm nhiều lên trong các rạch. Đầu năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, khu đầu tiên của Việt Nam.
Câu chuyện Cần Giờ vì thế thường được nhắc trong giới bảo tồn như một trong những ví dụ về phục hồi rừng ngập mặn quy mô lớn sau chiến tranh. Nó cũng cho thấy một điều thực tế: phục hồi là việc của nhiều chục năm, đòi hỏi liên tục quản lý, bảo vệ, chứ không phải chỉ trồng xong là xong.
Một khu rừng phần lớn do con người trồng cũng có đặc điểm riêng: nhiều vùng gần như chỉ có đước, đồng đều tuổi, khác với rừng tự nhiên có nhiều loài, nhiều tầng. Cách quản lý để rừng trồng dần giống rừng tự nhiên hơn là đề tài được bàn ở mục về rừng ngập mặn của trang.
Đời sống người dân trong những năm rừng còn non
Trong những năm 1980, khi rừng trồng còn non, đời sống người dân vùng Duyên Hải rất khó khăn. Đường bộ vào thành phố chưa có, đi lại chủ yếu bằng ghe, tàu, mất nhiều giờ. Nghề cá suy giảm theo rừng, nghề muối phụ thuộc thời tiết, nước ngọt phải chở từ xa hoặc hứng nước mưa.
Việc bảo vệ rừng non đặt ra mâu thuẫn rõ ràng: người dân cần củi, cần gỗ, cần đất mở đầm để sống, trong khi rừng cần được để yên để lớn. Về sau, chính quyền giao cho các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ từng khoảnh rừng, có tiền công và được khai thác một số nguồn lợi theo quy định. Cách làm này giúp gắn quyền lợi của người dân với việc giữ rừng.
Những người lớn lên trong giai đoạn đó hôm nay là thế hệ trung niên của Cần Giờ. Họ hiểu rõ hơn ai hết rằng màu xanh mà khách du lịch chụp ảnh là kết quả của mấy chục năm công sức, và có thể mất đi nhanh hơn nhiều so với thời gian gây dựng.
Bài học Cần Giờ cho những vùng ngập mặn khác
Câu chuyện mất rừng rồi trồng lại ở Cần Giờ thường được đem ra so sánh khi bàn về các vùng ven biển khác của Việt Nam và Đông Nam Á, nơi rừng ngập mặn bị phá để nuôi tôm, lấy củi hay xây dựng. Bài học đầu tiên là thời gian: phá một khu rừng có thể chỉ mất vài năm, nhưng để nó khép tán trở lại cần nhiều chục năm, và để có lại sự đa dạng như rừng tự nhiên còn lâu hơn thế.
Bài học thứ hai là chọn đúng chỗ, đúng loài. Những đợt trồng thất bại ban đầu ở Cần Giờ, và ở nhiều nơi khác sau này, thường do trồng ở cao độ bãi không hợp, nước ngập quá lâu hoặc quá ngắn, hoặc trồng một loài ở nơi vốn chỉ hợp với loài khác. Rừng ngập mặn không phải chỗ nào ven biển cũng mọc được; nó cần bùn, cần phù sa, cần nhịp triều phù hợp.
Bài học thứ ba là con người. Rừng chỉ được giữ khi người sống cạnh rừng có lý do để giữ nó. Cơ chế giao khoán cho hộ dân, dù còn nhiều điều phải bàn, đã biến người dân từ chỗ có thể là người chặt phá thành người canh giữ. Đó là điều khó sao chép hơn kỹ thuật trồng cây, vì nó phụ thuộc vào chính sách, vào thu nhập và vào niềm tin giữa người dân với chính quyền.
Ghi nhớ khi kể về giai đoạn này
Câu chuyện rừng chết và rừng hồi sinh dễ bị kể theo kiểu thần thoại hoá. Một vài lưu ý để kể đúng:
- Rừng Cần Giờ hôm nay chủ yếu là rừng trồng và rừng tái sinh sau chiến tranh, không phải rừng nguyên sinh còn sót lại.
- Chất làm rụng lá là nguyên nhân lớn nhưng không phải duy nhất; bom đạn và khai thác quá mức trước và sau chiến tranh cũng góp phần.
- Năm 1978 là mốc khởi đầu chương trình trồng rừng quy mô lớn được nhắc nhiều; việc trồng và chăm sóc kéo dài nhiều năm sau đó.
- Các con số về diện tích bị rải chất độc hay diện tích trồng lại khác nhau giữa các nguồn; nên dẫn nguồn khi nêu.
- Không nên quy mọi bệnh tật trong vùng cho chất độc thời chiến; đánh giá sức khoẻ là việc của bác sĩ và cơ quan chuyên môn.
Kể đúng không làm câu chuyện bớt cảm động. Ngược lại, nó giúp người nghe hiểu vì sao rừng Cần Giờ quý, và vì sao giữ nó đòi hỏi nhiều hơn những khẩu hiệu.
Câu hỏi thường gặp
Rừng Cần Giờ có phải rừng nguyên sinh không?
Phần lớn không. Rừng ngập mặn Cần Giờ bị huỷ diệt nặng trong chiến tranh, rừng hiện nay chủ yếu là rừng đước trồng từ cuối thập niên 1970 và rừng tự tái sinh sau đó. Một số khu vực có cây sống sót hoặc mọc lại tự nhiên.
Vì sao đước lại được chọn để trồng lại rừng?
Đước là loài cây chủ đạo của rừng ngập mặn vùng này trước chiến tranh, mọc nhanh trên bãi bùn ngập triều, có rễ chống chắc giữ đất và cho gỗ, củi. Trái đước giống dễ thu, dễ cắm trực tiếp xuống bùn, phù hợp trồng trên diện tích lớn.
Chất độc thời chiến còn ảnh hưởng tới rừng Cần Giờ hôm nay không?
Rừng đã phục hồi rộng khắp và được công nhận khu dự trữ sinh quyển. Những đánh giá chi tiết về tồn lưu hoá chất trong đất, nước là việc của các cơ quan chuyên môn. Người dân lo ngại về sức khoẻ nên gặp bác sĩ.
Ai đã trồng lại rừng Cần Giờ?
Chương trình trồng rừng từ năm 1978 do lâm trường của huyện Duyên Hải làm đầu mối, với lực lượng công nhân lâm nghiệp, thanh niên xung phong và người dân địa phương. Về sau có thêm các hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
Mất bao lâu để rừng Cần Giờ xanh trở lại?
Đước trồng cần nhiều năm để khép tán. Sau khoảng hai thập kỷ, phần lớn vùng rừng trồng đã phủ xanh, và đến năm 2000 khu rừng được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển. Việc chăm sóc, bảo vệ vẫn tiếp tục tới nay.