Đặc khu Rừng Sác là tổ chức quân sự đặc biệt được thành lập giữa thập niên 1960 (các tài liệu thường ghi năm 1966) trên vùng rừng ngập mặn Cần Giờ và các vùng lân cận, với lực lượng nòng cốt là Đoàn 10 đặc công. Nhiệm vụ chính của đặc khu là uy hiếp tuyến đường thuỷ Lòng Tàu, con đường tiếp tế quan trọng bằng tàu biển vào Sài Gòn, và đánh vào các kho, căn cứ quanh thành phố.
Câu chuyện Rừng Sác được kể nhiều trong sách báo, phim tài liệu, và được tái hiện ở Khu di tích lịch sử Rừng Sác trong vùng Long Hòa cũ. Bài này tóm tắt bối cảnh, cách tổ chức, đời sống và cách đánh của lực lượng đặc công trong rừng ngập mặn, chỉ dùng những điều được ghi nhận rộng rãi, và chỉ ra chỗ người đọc nên kiểm tra thêm khi cần chi tiết.
Vì sao Rừng Sác thành chiến trường
Như cửa biển thời Nguyễn, vào những năm 1960 tuyến sông qua Cần Giờ vẫn là đường thuỷ chính đưa tàu biển vào cảng Sài Gòn. Phần lớn hàng hoá, nhiên liệu, vũ khí đổ vào Sài Gòn bằng đường biển phải đi qua luồng Lòng Tàu, hai bên là rừng ngập mặn dày. Ai kiểm soát được hai bờ là có thể đe doạ cả tuyến tiếp tế.
Rừng ngập mặn, với người không quen, là nơi gần như không thể sống: không đất khô, nước ngập theo con triều, không nước ngọt, muỗi dày, bùn lún. Nhưng chính điều đó biến nó thành nơi trú ẩn tốt cho một lực lượng nhỏ, thạo sông nước. Xe cơ giới không vào được, quân bộ hành quân rất chậm, máy bay khó thấy người dưới tán rừng.
Trước đó, trong thời kháng chiến chống Pháp, Rừng Sác cũng đã là nơi đứng chân của các lực lượng kháng chiến vùng ven Sài Gòn. Kinh nghiệm sống và đánh trong rừng ngập mặn từ giai đoạn này là nền tảng cho cách tổ chức về sau.
Rừng Sác trong vành đai căn cứ quanh Sài Gòn
Để hiểu đúng vị trí của Rừng Sác, nên đặt nó cạnh các vùng căn cứ khác quanh Sài Gòn trong cùng thời kỳ. Phía tây bắc có vùng Củ Chi với hệ thống địa đạo, phía bắc và đông bắc có các chiến khu trong rừng miền Đông, phía tây nam có vùng ven thuộc Long An. Rừng Sác giữ hướng đông nam, hướng biển, nơi các vùng khác không vươn tới được.
Mỗi vùng có cách tồn tại riêng theo địa hình. Ở Củ Chi, đất đỏ cứng cho phép đào địa đạo nhiều tầng. Ở Rừng Sác, đất là bùn ngập nước, không thể đào hầm sâu; thay vào đó, lực lượng sống trên mặt nước và dưới tán rừng, di chuyển bằng xuồng theo rạch. Cùng một mục tiêu là uy hiếp đô thị, nhưng phương tiện, kỹ năng và cả bệnh tật thường gặp đều khác nhau.
Điểm riêng nhất của Rừng Sác là mục tiêu nằm trên mặt nước: luồng tàu, cảng, kho ven sông. Điều này giải thích vì sao lực lượng ở đây phát triển thành đặc công nước, một lực lượng chuyên biệt, thay vì bộ binh thông thường. Nó cũng giải thích vì sao vùng rừng bị đánh phá ác liệt đến vậy: đe doạ một con đường biển là đe doạ nguồn sống của cả một đô thị lớn.
Đặc khu và Đoàn 10: tổ chức ra sao
Theo các tài liệu lịch sử được giới thiệu rộng rãi, Đặc khu Rừng Sác được thành lập vào khoảng năm 1966, vừa là một địa bàn vừa là một bộ chỉ huy quân sự riêng, phạm vi gồm vùng rừng ngập mặn Cần Giờ và một phần các vùng lân cận phía Nhà Bè, Nhơn Trạch. Lực lượng chiến đấu chủ lực là Đoàn 10 đặc công, được tổ chức thành các đơn vị nhỏ chuyên đánh trên sông và đánh vào mục tiêu trên bờ.
Bên cạnh đặc công, đặc khu có các bộ phận hậu cần, quân y, công binh, thông tin, cùng lực lượng du kích và người dân các ấp ven rừng tham gia tiếp tế, dẫn đường, nắm tình hình. Sự kết hợp giữa đơn vị chuyên nghiệp và người dân địa phương thạo con nước là điều các hồi ký thường nhấn mạnh.
Số lượng người, tên từng chỉ huy, từng trận đánh được ghi chép chi tiết trong các cuốn lịch sử đơn vị và lịch sử địa phương đã xuất bản. Bài viết phổ thông không nên tự nêu các con số này nếu không đối chiếu được với những tài liệu đó.
Cách đánh của đặc công trong rừng ngập mặn
Đánh tàu trên sông. Mục tiêu nổi bật nhất là tàu hàng, tàu chở nhiên liệu đi trên luồng Lòng Tàu. Đặc công thường dùng thuỷ lôi, mìn gắn tàu, hoặc phục kích từ bờ ở những khúc sông hẹp. Mỗi con tàu bị đánh chìm hay hư hỏng không chỉ mất hàng mà còn có thể làm tắc luồng, buộc các tàu khác phải chờ.
Đánh kho và căn cứ. Từ căn cứ trong rừng, các tổ đặc công luồn sâu đánh vào kho xăng dầu, kho đạn và căn cứ quân sự quanh Sài Gòn. Trận đánh kho xăng Nhà Bè năm 1973 là một trong những trận được nhắc nhiều trong lịch sử đơn vị.
Lợi dụng con nước. Thuỷ triều quyết định gần như mọi hoạt động. Nước lớn thì ghe xuồng vào sâu được trong rạch, nước ròng thì lộ bãi bùn, lộ dấu vết. Người lính Rừng Sác phải thuộc lịch nước như người làm biển, tính giờ đi, giờ về theo con nước.
Ẩn mình dưới tán rừng. Lán trại dựng trên cọc hoặc trên những chỗ đất hơi nhô, ngụy trang dưới tán đước. Bếp nấu phải giấu khói. Mọi di chuyển cố gắng không để lại dấu trên bùn. Đây là kỹ năng được truyền lại qua nhiều lớp lính.
Đời sống trong rừng: thiếu nước ngọt, muỗi và bom đạn
Hồi ký của các cựu chiến binh Rừng Sác thường kể về ba nỗi khổ lớn. Thứ nhất là nước ngọt: giữa vùng nước mặn, nước uống phải hứng nước mưa, chở từ nơi khác vào, hoặc đào những hố nhỏ trên chỗ đất cao. Mùa khô kéo dài là thời gian khó khăn nhất. Thứ hai là muỗi và bệnh tật, nhất là sốt rét, các bệnh ngoài da do ngâm nước mặn lâu ngày.
Thứ ba là bom đạn và các đợt càn. Vì Rừng Sác đe doạ trực tiếp tuyến tiếp tế vào Sài Gòn, vùng rừng chịu sự đánh phá rất nặng: ném bom, pháo kích, rải chất độc làm rụng lá để lộ người dưới tán rừng, và các cuộc hành quân càn quét. Nhiều vùng rừng bị huỷ diệt gần như hoàn toàn.
Ăn uống trong rừng phụ thuộc vào những gì rừng và sông cho: cá, tôm, cua, ốc bắt trong rạch, đọt rau mọc ven bờ, gạo tiếp tế từ các ấp. Khi càn quét gắt, đường tiếp tế bị cắt, có những thời gian thiếu đói kéo dài, được nhắc đến nhiều trong hồi ký.
Trong điều kiện ấy, khả năng tồn tại và hoạt động của lực lượng Rừng Sác được nhiều người coi là một kỳ tích. Đoàn 10 được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, và nhiều cá nhân trong đơn vị cũng được tuyên dương.
Người dân các ấp ven rừng trong chiến tranh
Phía sau những trận đánh là đời sống của người dân các ấp ven Rừng Sác. Nhiều gia đình vừa làm nghề cá, nghề muối, vừa lo tiếp tế gạo, nước, thuốc men cho người trong rừng, vừa phải sống dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn ở các ấp. Đó là cuộc sống hai mặt đầy rủi ro.
Các câu chuyện về những bà mẹ chèo xuồng chở gạo qua sông, những đứa trẻ làm liên lạc, những gia đình mất người thân do bom đạn được ghi lại trong các sách lịch sử địa phương. Những câu chuyện này cho thấy chiến tranh ở Rừng Sác không chỉ là chuyện của người lính, mà là của cả cộng đồng sống quanh khu rừng.
Sau chiến tranh, nhiều cựu chiến binh ở lại Cần Giờ làm ăn, sinh sống, trở thành một phần cộng đồng dân cư. Những ngày kỷ niệm, các đoàn cựu chiến binh từ khắp nơi thường về lại vùng rừng, tới khu di tích để tưởng niệm đồng đội.
Với thế hệ trẻ ở Cần Giờ, những câu chuyện này đến chủ yếu qua lời ông bà và các buổi sinh hoạt ở trường. Nhiều gia đình vẫn giữ những kỷ vật nhỏ như chiếc xuồng cũ, chiếc nồi nhôm méo, tấm ảnh đen trắng, như một cách nhớ rằng mảnh đất mình đang sống từng là chiến trường.
Khu di tích lịch sử Rừng Sác: ký ức được tái hiện
Khu di tích lịch sử Rừng Sác nằm trong vùng rừng thuộc Long Hòa cũ, nay xã Cần Giờ, gần các khu tham quan sinh thái nổi tiếng. Tại đây, một số hạng mục của căn cứ như lán trại, hầm, bến xuồng, nơi hội họp được dựng lại theo lời kể và tư liệu, kèm khu tưởng niệm những người đã hy sinh.
Khách tham quan nên hiểu rằng phần lớn công trình ở khu di tích là phục dựng, không phải nguyên trạng từ thời chiến; căn cứ thật trong rừng ngập mặn hầu như không thể tồn tại nguyên vẹn qua mấy chục năm. Giá trị của khu di tích là giúp người xem hình dung điều kiện sống, chứ không phải bảo tồn từng chiếc lán.
Cách đi, thời gian tham quan và việc kết hợp với các điểm khác được trình bày ở mục điểm đến của trang. Ở góc lịch sử, nên tới đây sau khi đã đọc qua bối cảnh, để những gì thấy được có ý nghĩa hơn là chỉ là vài túp lều trong rừng.
Đọc lịch sử Rừng Sác một cách cẩn trọng
Về Rừng Sác có rất nhiều tư liệu: lịch sử đơn vị, hồi ký, phim tài liệu, bài báo kỷ niệm. Mỗi loại có giá trị và giới hạn riêng. Lịch sử đơn vị được biên soạn có hệ thống nhưng tập trung vào thành tích chiến đấu; hồi ký sống động nhưng phụ thuộc trí nhớ; bài báo kỷ niệm thường lặp lại các chi tiết nổi bật nhất.
Khi cần một con số cụ thể như số tàu bị đánh chìm, số trận đánh, số người hy sinh, nên dẫn từ ấn phẩm chính thức và ghi rõ nguồn. Các trang tổng hợp trên mạng hay chép lại con số mà không nói xuất xứ, và giữa các trang có thể chênh nhau đáng kể.
Cũng nên nhớ rằng chiến tranh để lại vết thương cho mọi phía, cho người dân và cho cả khu rừng. Phần hậu quả với rừng ngập mặn và cuộc hồi sinh của rừng sau 1975 là một câu chuyện riêng, quan trọng không kém với vùng đất này.
Câu hỏi thường gặp
Đặc khu Rừng Sác thành lập năm nào?
Các tài liệu lịch sử thường ghi Đặc khu Rừng Sác được thành lập năm 1966, cùng với việc tổ chức Đoàn 10 đặc công làm lực lượng chủ lực. Khi cần mốc ngày tháng chính xác, nên tra lịch sử đơn vị đã xuất bản.
Vì sao đặc công Rừng Sác đánh tàu trên sông Lòng Tàu?
Luồng Lòng Tàu là tuyến tàu biển chính vào cảng Sài Gòn, chuyên chở phần lớn hàng hoá, nhiên liệu và vũ khí. Đánh tàu trên tuyến này gây thiệt hại lớn và làm gián đoạn tiếp tế, trong khi rừng ngập mặn hai bên bờ là nơi ẩn náu khó bị phát hiện.
Khu di tích lịch sử Rừng Sác ở đâu?
Khu di tích nằm trong vùng rừng thuộc xã Long Hòa cũ, nay là xã Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh, gần các khu tham quan sinh thái của vùng. Cách đi và thời gian mở cửa nên hỏi trước tại địa phương.
Công trình ở khu di tích có phải nguyên bản không?
Phần lớn là phục dựng theo tư liệu và lời kể của cựu chiến binh. Căn cứ thật trong rừng ngập mặn được làm bằng vật liệu tạm, gần như không thể tồn tại nguyên vẹn qua nhiều chục năm ngập nước và mục nát.
Muốn đọc kỹ về lịch sử Rừng Sác thì tìm sách nào?
Có thể tìm các cuốn lịch sử Đặc khu Rừng Sác và Đoàn 10 đặc công, lịch sử địa phương huyện Cần Giờ cũ, cùng hồi ký của cựu chiến binh đã xuất bản. Thư viện thành phố và bảo tàng là nơi nên bắt đầu.