CanGio.orgCần Giờ
Con người và lễ hội

Người Cần Giờ: các lớp cư dân và nếp sống vùng rừng Sác ven biển

Người Cần Giờ là ai, đến từ đâu và sống thế nào giữa rừng ngập mặn, sông lớn và biển. Các lớp cư dân, bốn vùng sinh sống khác nhau và nếp sống theo con nước.

Wide view of a quiet riverside hamlet in the mangrove delta, stilt houses with tin roofs along a muddy creek, small boats tied to poles, late afternoon haze

Người Cần Giờ hôm nay phần lớn là con cháu những lớp người Việt đến khai phá vùng cửa sông ven biển phía nam Sài Gòn qua nhiều đợt, sống bằng ba nguồn chính: đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, làm ruộng vườn trên các giồng cát. Trước họ rất lâu, vùng này đã có cư dân cổ để lại dấu vết ở các di chỉ như Giồng Cá Vồ, Giồng Am. Nếp sống người Cần Giờ được định hình bởi con nước: thuỷ triều quyết định giờ ra bãi, giờ đi chợ, giờ thả lưới, thậm chí cả giờ đi đường.

Bài này nói về con người trên toàn vùng huyện Cần Giờ cũ của TP Hồ Chí Minh. Từ ngày 1/7/2025, khi thành phố bỏ cấp huyện, vùng này được tổ chức lại thành bốn xã: xã Cần Giờ (gồm thị trấn Cần Thạnh và xã Long Hòa cũ), xã Bình Khánh (Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp và một phần An Thới Đông cũ), xã An Thới Đông (phần còn lại của An Thới Đông và Lý Nhơn cũ) và xã đảo Thạnh An. Khi nói "người Cần Giờ", người địa phương vẫn hiểu là người của cả vùng chứ không riêng xã Cần Giờ mới.

Những lớp cư dân trên đất Cần Giờ

Lớp sớm nhất là cư dân cổ. Các cuộc khai quật ở Giồng Cá Vồ và Giồng Am trên địa bàn xã Long Hòa cũ đã tìm thấy mộ chum, đồ gốm, đồ trang sức, cho thấy từ hàng nghìn năm trước đã có những cộng đồng sống trên các giồng cát giữa vùng ngập mặn, có giao lưu với các vùng xa. Những người ấy không phải tổ tiên trực tiếp của cư dân ngày nay, nhưng họ cho thấy một điều quan trọng: đất Cần Giờ không phải đất hoang chờ người đến, mà là nơi con người đã biết cách sống chung với nước mặn từ rất lâu.

Lớp thứ hai là người Việt đến khai phá trong quá trình mở đất Nam Bộ. Theo cách kể trong các gia đình lâu đời và tài liệu địa phương, nhiều người theo đường biển từ các tỉnh miền Trung vào, dừng chân ở cửa sông, thấy nghề cá thuận lợi thì ở lại. Họ mang theo tục thờ cá Ông, lệ cúng đình, lối hát bả trạo — những thứ đến nay vẫn là xương sống của đời sống văn hoá vùng biển Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An.

Lớp thứ ba đến muộn hơn, trong và sau chiến tranh. Vùng rừng Sác từng bị tàn phá nặng, dân cư thưa thớt, nhiều gia đình phải dời đi. Sau năm 1975, rồi từ cuối thập niên 1970 khi rừng được trồng lại, người từ nhiều nơi đến làm lâm trường, làm muối, nuôi tôm, lập ấp mới. Một phần cư dân Bình Khánh, An Thới Đông hôm nay có gốc từ các tỉnh miền Tây và miền Trung đến trong giai đoạn này. Ngày nay lại có thêm một lớp mới: người thành phố mua đất làm nhà vườn, người làm du lịch, lao động các công trình.

Bốn vùng sống, bốn nếp sinh hoạt khác nhau

Cần Giờ dài từ bến phà Bình Khánh xuống tới biển, mỗi đoạn một kiểu sống. Bảng dưới gom theo địa bàn cũ và mới để dễ hình dung; ranh giới thực tế mềm hơn bảng.

Vùng (cũ → mới)Cảnh quanSinh kế chính của người dânNét sống dễ thấy
Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp → xã Bình KhánhĐầu vùng, sát phà, nhiều sông rạch, đất giồng xen ruộngNuôi trồng thuỷ sản, buôn bán, làm công nhân, đi làm nội thànhNhịp sống gần thành phố nhất, chợ đông, nhiều người đi về hằng ngày
An Thới Đông, Lý Nhơn → xã An Thới ĐôngVùng giữa, ruộng muối, đầm tôm, rừng phòng hộLàm muối, nuôi tôm, làm thuê trong mùa vụ, trồng trọt trên giồngXóm thưa, đường ấp dài, sống theo mùa nắng làm muối và mùa mưa
Cần Thạnh, Long Hòa → xã Cần GiờGiáp biển, bãi bồi, giồng cát, phố chợĐánh bắt ven bờ, nuôi hàu, nuôi nghêu, buôn bán hải sản, dịch vụ cho kháchPhố thị nhỏ, chợ hải sản, lăng Ông, lễ Nghinh Ông
Thạnh An → xã Thạnh AnĐảo giữa các cửa sông, xung quanh là nước và rừngĐánh bắt, nuôi hải sản, làm muối ở Thiềng LiềngĐi lại bằng đò, cộng đồng nhỏ, quen biết nhau hết

Khác biệt này giải thích vì sao cùng là "người Cần Giờ" mà câu chuyện đời sống mỗi nơi một khác: người Bình Khánh lo giờ phà và kẹt xe về thành phố, người Lý Nhơn lo nắng có đủ cho mẻ muối, người Long Hòa lo con nước ròng có đủ thấp để ra bãi nghêu, người Thạnh An lo gió lớn đò có chạy được không.

Sống theo con nước

Ở Cần Giờ, lịch quan trọng nhất trong nhà không phải lịch dương mà là lịch nước. Thuỷ triều vùng cửa sông này lên xuống hai lần mỗi ngày, lệch nhau dần theo ngày âm lịch; người lớn tuổi nhẩm được con nước theo ngày mùng, ngày rằm mà không cần tra. Nước ròng sâu là lúc bãi nghêu, bãi sò lộ ra, người ta đi cào; nước lớn là lúc ghe vào được các rạch nhỏ, là lúc đặt đáy, đặt lú.

Từ đó sinh ra những thói quen người nơi khác nhìn vào thấy lạ. Chợ hải sản đông nhất không cố định theo giờ đồng hồ mà theo lúc ghe về. Có người ăn cơm trưa lúc ba giờ chiều vì sáng phải ra bãi theo con nước. Nhà ven sông kê nền cao, để sẵn chỗ kê đồ khi triều cường tháng chín, tháng mười âm lịch. Trẻ con lớn lên biết bơi, biết chèo, biết nhìn màu nước để đoán nước đang lên hay xuống.

Con nước cũng tạo ra sự gắn kết. Một mẻ hàu, một mẻ muối, một chuyến đáy đều cần nhiều tay trong một khoảng thời gian ngắn, nên người ta quen đổi công, gọi nhau làm giúp. Quan hệ xóm giềng vì thế chặt hơn nhiều vùng ven đô khác của TP Hồ Chí Minh.

Tính cách người Cần Giờ qua mắt người ở lâu

Thật và thẳng. Người làng chài nói ít vòng vo. Hỏi đường sẽ được chỉ tận tình, hỏi giá hải sản sẽ được trả lời gọn. Cái thẳng đó đôi khi bị người nơi khác hiểu là cộc, nhưng thật ra là lối nói của người quen làm việc ngoài trời, quen tính theo con nước.

Coi trọng lệ làng. Dù sống sát thành phố lớn, nhiều xóm vẫn giữ lệ cúng đình, cúng lăng, đóng góp cho lễ hội. Việc này không chỉ là chuyện cúng kiếng mà là cách cộng đồng nhắc nhau mình là ai, mình từ đâu đến.

Chịu khó và quen rủi ro. Nghề biển, nghề muối, nghề nuôi đều phụ thuộc thời tiết. Một trận mưa trái mùa có thể mất trắng mẻ muối, một đợt nước ngọt tràn về có thể làm hàu chết. Người Cần Giờ quen với chuyện được mùa mất mùa, nên ít khi than vãn với người lạ.

Hiếu khách nhưng giữ khoảng cách với chuyện làm ăn. Khách tới chơi được mời nước, mời ăn hàu ngay tại bè. Nhưng chuyện đất đai, chuyện ai bán đất cho ai, giá bao nhiêu thì người địa phương thường dè dặt, nhất là trong những năm có nhiều dự án lớn được nhắc tới.

Những đổi thay của người Cần Giờ hôm nay

Thế hệ trẻ Cần Giờ không còn đi biển nhiều như cha ông. Nhiều người học xong ở lại nội thành làm việc, cuối tuần mới về; một số chọn ở lại làm du lịch, mở quán, mở homestay, chở khách đi rừng. Nghề muối, nghề cào nghêu chủ yếu còn người trung niên và lớn tuổi. Đây là chuyển dịch chung của nhiều vùng ven biển gần đô thị lớn.

Đi kèm là những lo lắng rất cụ thể: giá trị đất thay đổi, người ngoài đến nhiều, các dự án lớn được bàn tới khiến nhiều gia đình không biết nên giữ nghề cũ hay chuyển hướng. Ở các buổi đám giỗ, đám cưới, chuyện "con ở thành phố về hay ở lại" là đề tài thường gặp.

Cũng có những thứ được giữ lại rất bền. Lễ Nghinh Ông vẫn đông người về dự mỗi năm, kể cả những người đã chuyển lên thành phố sinh sống. Bữa cơm vẫn có món cá kho, canh chua nấu với trái bần. Người lớn vẫn dạy con cháu nhìn nước, nhìn trời trước khi ra sông. Những sợi dây đó làm cho người Cần Giờ dù đi đâu vẫn nhận ra nhau.

Gợi ý để hiểu người Cần Giờ khi bạn mới đến

Dù bạn là khách ghé một ngày hay người sắp chuyển về sống, vài điều nhỏ sau giúp việc làm quen dễ hơn:

  • Hỏi chuyện con nước, chuyện mùa vụ: đây là đề tài người địa phương sẵn lòng nói và nói hay nhất.
  • Đi chợ vào lúc ghe về để thấy nhịp làm ăn thật, nhưng đừng chen vào chỗ người ta đang phân loại, cân hàng.
  • Dự lễ đình, lễ lăng với thái độ của người khách: ăn mặc kín đáo, hỏi trước khi chụp ảnh, không đứng chắn lối làm lễ.
  • Tôn trọng ranh giới bãi nuôi: bãi nghêu, bè hàu đều có chủ, không tự ý vào nhặt dù trông như bãi hoang.
  • Khi hỏi đường, hỏi theo tên ấp, tên chợ, tên bến; nhiều người vẫn quen gọi theo xã cũ như Long Hòa, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp hơn tên xã mới.

Những điều này nghe đơn giản, nhưng là cách nhanh nhất để từ người lạ thành người quen ở một vùng mà ai cũng biết mặt nhau.

Gia đình, dòng họ và đám giỗ ở làng biển

Ở các xóm lâu đời của Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An, nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa, và ngày giỗ là dịp họ hàng tụ về đông đủ. Đám giỗ làng biển thường nấu nhiều món cá, món hải sản do chính người trong nhà đánh bắt hay nuôi; khách đến không cần mời trịnh trọng, chỉ cần là bà con, bạn ghe, hàng xóm.

Một nét dễ thấy là quan hệ bạn ghe. Những người cùng đi một chiếc ghe, cùng làm một bãi nghêu lâu năm thì thân nhau như anh em, có việc gì cũng có mặt. Khi một gia đình gặp nạn trên sông biển, cả xóm góp tay lo liệu. Đây là lối sống được hình thành từ nghề nghiệp nhiều rủi ro, nơi không ai sống sót một mình được.

Con cái trong nhà thường được chia việc từ sớm: con trai theo cha ra ghe, ra bãi; con gái phụ mẹ buôn bán, phơi khô, lặt hàu. Ngày nay chuyện học hành được coi trọng hơn nhiều, nhiều gia đình dồn sức cho con lên thành phố học. Nhưng mùa cao điểm, con cái học xa vẫn về phụ nhà, và đó là lúc nghề được truyền lại theo cách tự nhiên nhất.

Câu hỏi thường gặp

Người Cần Giờ có phải phần lớn là người gốc miền Trung không?

Một phần đáng kể cư dân vùng biển Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An có gốc từ các làng biển miền Trung theo đường biển vào, thể hiện qua tục thờ cá Ông và hát bả trạo. Tuy vậy cư dân hiện nay pha trộn nhiều nguồn, có cả người gốc miền Tây và người từ nơi khác đến sau năm 1975.

Sau sáp nhập 7/2025, gọi "người Cần Giờ" có còn đúng không?

Vẫn đúng theo nghĩa vùng đất. Về hành chính, huyện Cần Giờ không còn; vùng này nay là bốn xã Cần Giờ, Bình Khánh, An Thới Đông và Thạnh An thuộc TP Hồ Chí Minh. Người dân vẫn tự gọi mình là người Cần Giờ như một tên vùng quen thuộc.

Xã Cần Giờ mới gồm những nơi nào?

Theo phương án sắp xếp đơn vị hành chính có hiệu lực từ 1/7/2025, xã Cần Giờ được lập từ thị trấn Cần Thạnh và xã Long Hòa cũ, tức vùng giáp biển có chợ, bãi biển và lăng Ông. Không nên nhầm xã Cần Giờ với cả vùng huyện Cần Giờ cũ.

Người Cần Giờ chủ yếu sống bằng nghề gì?

Các nghề gắn với nước vẫn là chính: đánh bắt ven bờ, nuôi hàu, nghêu, tôm, làm muối, buôn bán hải sản. Gần đây du lịch, dịch vụ và đi làm nội thành chiếm phần ngày càng lớn, nhất là ở vùng Bình Khánh gần phà và ở khu vực ven biển.

Muốn tìm hiểu đời sống làng chài Cần Giờ thì nên đến đâu?

Khu vực Cần Thạnh và Long Hòa của xã Cần Giờ mới là nơi dễ thấy nhất: chợ hải sản, bãi nghêu, bè hàu, lăng Ông. Muốn thấy cộng đồng nhỏ, sống tách biệt hơn thì đi đò ra xã đảo Thạnh An, nhất là ấp Thiềng Liềng.

Có nên hỏi người dân về chuyện đất đai, dự án không?

Có thể hỏi, nhưng nên hiểu đây là chủ đề nhạy cảm với nhiều gia đình. Thông tin chính thức về quy hoạch và dự án cần tra từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không nên dựa vào lời kể hay lời môi giới.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.